Cache-Control: no-store

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2020

UNESCO VINH DANH BẰNG CHỨNG HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM

Việc UNESCO tôn vinh Châu bản triều Nguyễn sẽ giúp quảng bá chủ quyền biển đảo khi đây là bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

UNESCO's honor of the Nguyen Dynasty will help promote the sovereignty of the islands as an i can't deny evidence of Vietnam's sovereignty over the Paracel and Spartly Islands

联合国教科文组织对 Nguyen 王朝的荣誉将有助于促进群岛的主权, 因为我不能否认越南西沙群岛和斯巴达群岛的主权的证据

L’honneur de l’UNESCO de la dynastie Nguyen aidera à promouvoir la souveraineté des îles comme un i ne peut pas nier la preuve de la souveraineté du Vietnam sur les îles Paracel et Spartly

UNESCO tus yawm ntawm tus Nguyen Dynasty yuav pab txhawb lub sovereignty ntawm cov Islands tuaj ua ib qho pov thawj tsis muab pov thawj ntawm lub Nyab Laj sovereignty hla lub Paracel thiab Spartly Islands tuaj

Châu bản triều Nguyễn của Việt Nam đã được UNESCO trao bằng công nhận là Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương 2014 tại lễ đón nhận bằng di sản ở Hà Nội ngày 30-7.

Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội Katherine Muller - Marine trao bằng Di sản Tư liệu Châu bản triều Nguyễn cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình
Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội Katherine Muller - Marine trao bằng Di sản Tư liệu Châu bản triều Nguyễn cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình

Châu bản triều Nguyễn là khối tài liệu hành chính duy nhất còn lưu giữ được của một vương triều phong kiến ở Việt Nam. Di sản này chứa đựng nhiều thông tin phong phú, phản ánh mọi lĩnh vực trong xã hội dưới triều Nguyễn như chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, giáo dục… Đặc biệt, theo nội dung các Châu bản, các cơ quan của triều đình nhà Nguyễn đã xác lập, thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; cử nhiều đoàn ra 2 quần đảo này để khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ. Châu bản ngày 21-6 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) ghi rõ: Kết quả của đoàn khảo sát Hoàng Sa năm 1838 đã khảo sát được 25 đảo, trong đó có 13 đảo được khảo sát lần đầu…

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình khẳng định Châu bản là nguồn tài liệu vô cùng quý giá, có độ tin cậy cao, trong đó lưu bút tích phê duyệt của các hoàng đế triều Nguyễn. Châu bản chứa đựng các sự kiện lịch sử có giá trị minh chứng về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Châu bản triều Nguyễn được tôn vinh sẽ giúp quảng bá chủ quyền biển đảo khi đây là văn bản có giá trị lịch sử và giá trị pháp lý không thể chối cãi về chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Yến Anh (nld.com.vn)

UNESCO VINH DANH BẰNG CHỨNG HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM

Việc UNESCO tôn vinh Châu bản triều Nguyễn sẽ giúp quảng bá chủ quyền biển đảo khi đây là bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

UNESCO's honor of the Nguyen Dynasty will help promote the sovereignty of the islands as an i can't deny evidence of Vietnam's sovereignty over the Paracel and Spartly Islands

联合国教科文组织对 Nguyen 王朝的荣誉将有助于促进群岛的主权, 因为我不能否认越南西沙群岛和斯巴达群岛的主权的证据

L’honneur de l’UNESCO de la dynastie Nguyen aidera à promouvoir la souveraineté des îles comme un i ne peut pas nier la preuve de la souveraineté du Vietnam sur les îles Paracel et Spartly

UNESCO tus yawm ntawm tus Nguyen Dynasty yuav pab txhawb lub sovereignty ntawm cov Islands tuaj ua ib qho pov thawj tsis muab pov thawj ntawm lub Nyab Laj sovereignty hla lub Paracel thiab Spartly Islands tuaj

Châu bản triều Nguyễn của Việt Nam đã được UNESCO trao bằng công nhận là Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương 2014 tại lễ đón nhận bằng di sản ở Hà Nội ngày 30-7.

Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội Katherine Muller - Marine trao bằng Di sản Tư liệu Châu bản triều Nguyễn cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình
Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội Katherine Muller - Marine trao bằng Di sản Tư liệu Châu bản triều Nguyễn cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình

Châu bản triều Nguyễn là khối tài liệu hành chính duy nhất còn lưu giữ được của một vương triều phong kiến ở Việt Nam. Di sản này chứa đựng nhiều thông tin phong phú, phản ánh mọi lĩnh vực trong xã hội dưới triều Nguyễn như chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, giáo dục… Đặc biệt, theo nội dung các Châu bản, các cơ quan của triều đình nhà Nguyễn đã xác lập, thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; cử nhiều đoàn ra 2 quần đảo này để khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ. Châu bản ngày 21-6 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) ghi rõ: Kết quả của đoàn khảo sát Hoàng Sa năm 1838 đã khảo sát được 25 đảo, trong đó có 13 đảo được khảo sát lần đầu…

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình khẳng định Châu bản là nguồn tài liệu vô cùng quý giá, có độ tin cậy cao, trong đó lưu bút tích phê duyệt của các hoàng đế triều Nguyễn. Châu bản chứa đựng các sự kiện lịch sử có giá trị minh chứng về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Châu bản triều Nguyễn được tôn vinh sẽ giúp quảng bá chủ quyền biển đảo khi đây là văn bản có giá trị lịch sử và giá trị pháp lý không thể chối cãi về chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Yến Anh (nld.com.vn)

CỔ VẬT TRƯỜNG SA XÁC TÍN CHỦ QUYỀN VIỆT NAM

Theo TS Bùi Văn Liêm, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, những cổ vật vừa thu được tại quần đảo Trường Sa đã khẳng định sự có mặt sớm và liên tục của người Việt ở đây

Phóng viên: Ông có thể nói rõ hơn về kết quả của đợt khảo sát cổ vật vừa tiến hành ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam?

Cổ vật Trường Sa xác tín chủ quyền Việt Nam

- TS Bùi Văn Liêm: Theo kế hoạch hợp tác giữa Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), Bảo tàng Khánh Hòa…, từ ngày 21 đến 29-6, đoàn công tác khảo cổ gồm 10 thành viên thuộc Viện Khảo cổ học, Cục Di sản Văn hóa, Bảo tàng Khánh Hòa, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM đã điều tra, khảo sát ở 4 đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết, Sơn Ca, Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Tại Trường Sa Lớn, đoàn đã khảo sát toàn bộ bề mặt đảo và mở một hố thám sát rộng 1 m2. Hiện vật thu được khi khảo sát bề mặt đảo gồm 1 mảnh bát thời Trần, 2 mảnh gốm men trắng vẽ lam thời Lê và nhiều mảnh sành thuộc thế kỷ XVIII-XIX. Cùng với đó, trong hố thám sát thu được 4 mảnh gốm thô thời tiền sử.

Tại đảo Sơn Ca, chúng tôi cũng thu được một số mảnh sành từ thế kỷ XVIII. Trong khi đó, tại đảo Nam Yết, đoàn tìm thấy một mảnh gốm men trắng vẽ lam thời Lê và một số mảnh sành có niên đại từ thế kỷ XVIII.

Năm 1993, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã giao cho Viện Khảo cổ học triển khai chương trình khảo cổ Trường Sa nhằm thu thập các chứng cứ khoa học phục vụ cho việc khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam. Kết quả đợt khai quật trước đây và hiện nay có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?

- Trong 3 năm 1993, 1994 và 1995, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Bảo tàng Khánh Hòa và Hải quân vùng IV, vùng V điều tra, khai quật khảo cổ trên các đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết và Song Tử Tây. Năm 1999, Viện Khảo cổ học tiếp tục điều tra và khai quật khảo cổ học trên 7 đảo thuộc quần đảo Trường Sa, gồm: Sơn Ca, Sinh Tồn, Phan Vinh (Hòn Sập), An Bang, Trường Sa Đông (Đá Đông), Tốc Tan và Đá Tây.

Kết quả của những cuộc khai quật và nghiên cứu khảo cổ học ở Trường Sa là nguồn tư liệu vật thật quan trọng khẳng định sự có mặt rất sớm của người Việt cổ trên các đảo thuộc quần đảo này.

Trên đảo Trường Sa Lớn, các chuyên gia khảo cổ đã phát hiện được những mảnh gốm thô có chất liệu, màu sắc, kỹ thuật chế tác tương tự đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh có niên đại tương đương với văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ và văn hóa Dốc Chùa ở Nam Bộ. Cùng với gốm thô Sa Huỳnh, trên đảo Trường Sa Lớn và Nam Yết, chúng ta đã phát hiện đồ gốm sứ Việt Nam thuộc 2 giai đoạn, gồm trước thế kỷ XV và sau thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII.

Hiện vật thu được tại đảo Trường Sa Lớn vào tháng 6-2014  (Ảnh do Viện Khảo cổ học cung cấp)
Hiện vật thu được tại đảo Trường Sa Lớn vào tháng 6-2014 (Ảnh do Viện Khảo cổ học cung cấp)

Cũng trên đảo Nam Yết, qua điều tra, chúng ta đã thu được 16 đồng tiền thời Nguyễn, có niên hiệu Minh Mạng và Tự Đức. Sự có mặt của tiền kim loại thời Nguyễn trên đảo Nam Yết rất phù hợp với những ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục, viết năm 1776. Theo Lê Quý Đôn, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã lập những đội Hoàng Sa và Bắc Hải để đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn cũng như các đảo ở Hà Tiên để thu hải sản và sản vật của những tàu đắm.

Các chuyên gia đầu ngành cho rằng với những hiện vật thu được trong các hố khai quật ở Trường Sa và các đảo ven bờ cho thấy sự có mặt của người Việt Nam trên các đảo này còn sớm hơn nhiều, ít ra là từ cuối thời Trần.

Với những kết quả thu được này, Viện Khảo cổ học và các nhà khoa học có tính đến việc tiếp tục tiến hành mở rộng quy mô khảo cổ tại các đảo, quần đảo không?

- Chúng tôi đang chỉnh lý để báo cáo các cấp có thẩm quyền và nhận sự chỉ đạo để tiếp tục khảo cổ học ở Trường Sa. Chúng tôi kiến nghị tiếp tục triển khai khảo cổ học dưới nước ở Trường Sa, Hoàng Sa và xây dựng đề án khảo sát bước đầu.

Yến Anh thực hiện (nld.com.vn)

CỔ VẬT TRƯỜNG SA XÁC TÍN CHỦ QUYỀN VIỆT NAM

Theo TS Bùi Văn Liêm, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, những cổ vật vừa thu được tại quần đảo Trường Sa đã khẳng định sự có mặt sớm và liên tục của người Việt ở đây

Phóng viên: Ông có thể nói rõ hơn về kết quả của đợt khảo sát cổ vật vừa tiến hành ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam?

Cổ vật Trường Sa xác tín chủ quyền Việt Nam

- TS Bùi Văn Liêm: Theo kế hoạch hợp tác giữa Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), Bảo tàng Khánh Hòa…, từ ngày 21 đến 29-6, đoàn công tác khảo cổ gồm 10 thành viên thuộc Viện Khảo cổ học, Cục Di sản Văn hóa, Bảo tàng Khánh Hòa, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM đã điều tra, khảo sát ở 4 đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết, Sơn Ca, Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Tại Trường Sa Lớn, đoàn đã khảo sát toàn bộ bề mặt đảo và mở một hố thám sát rộng 1 m2. Hiện vật thu được khi khảo sát bề mặt đảo gồm 1 mảnh bát thời Trần, 2 mảnh gốm men trắng vẽ lam thời Lê và nhiều mảnh sành thuộc thế kỷ XVIII-XIX. Cùng với đó, trong hố thám sát thu được 4 mảnh gốm thô thời tiền sử.

Tại đảo Sơn Ca, chúng tôi cũng thu được một số mảnh sành từ thế kỷ XVIII. Trong khi đó, tại đảo Nam Yết, đoàn tìm thấy một mảnh gốm men trắng vẽ lam thời Lê và một số mảnh sành có niên đại từ thế kỷ XVIII.

Năm 1993, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã giao cho Viện Khảo cổ học triển khai chương trình khảo cổ Trường Sa nhằm thu thập các chứng cứ khoa học phục vụ cho việc khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam. Kết quả đợt khai quật trước đây và hiện nay có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?

- Trong 3 năm 1993, 1994 và 1995, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Bảo tàng Khánh Hòa và Hải quân vùng IV, vùng V điều tra, khai quật khảo cổ trên các đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết và Song Tử Tây. Năm 1999, Viện Khảo cổ học tiếp tục điều tra và khai quật khảo cổ học trên 7 đảo thuộc quần đảo Trường Sa, gồm: Sơn Ca, Sinh Tồn, Phan Vinh (Hòn Sập), An Bang, Trường Sa Đông (Đá Đông), Tốc Tan và Đá Tây.

Kết quả của những cuộc khai quật và nghiên cứu khảo cổ học ở Trường Sa là nguồn tư liệu vật thật quan trọng khẳng định sự có mặt rất sớm của người Việt cổ trên các đảo thuộc quần đảo này.

Trên đảo Trường Sa Lớn, các chuyên gia khảo cổ đã phát hiện được những mảnh gốm thô có chất liệu, màu sắc, kỹ thuật chế tác tương tự đồ gốm văn hóa Sa Huỳnh có niên đại tương đương với văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ và văn hóa Dốc Chùa ở Nam Bộ. Cùng với gốm thô Sa Huỳnh, trên đảo Trường Sa Lớn và Nam Yết, chúng ta đã phát hiện đồ gốm sứ Việt Nam thuộc 2 giai đoạn, gồm trước thế kỷ XV và sau thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII.

Hiện vật thu được tại đảo Trường Sa Lớn vào tháng 6-2014  (Ảnh do Viện Khảo cổ học cung cấp)
Hiện vật thu được tại đảo Trường Sa Lớn vào tháng 6-2014 (Ảnh do Viện Khảo cổ học cung cấp)

Cũng trên đảo Nam Yết, qua điều tra, chúng ta đã thu được 16 đồng tiền thời Nguyễn, có niên hiệu Minh Mạng và Tự Đức. Sự có mặt của tiền kim loại thời Nguyễn trên đảo Nam Yết rất phù hợp với những ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục, viết năm 1776. Theo Lê Quý Đôn, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã lập những đội Hoàng Sa và Bắc Hải để đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn cũng như các đảo ở Hà Tiên để thu hải sản và sản vật của những tàu đắm.

Các chuyên gia đầu ngành cho rằng với những hiện vật thu được trong các hố khai quật ở Trường Sa và các đảo ven bờ cho thấy sự có mặt của người Việt Nam trên các đảo này còn sớm hơn nhiều, ít ra là từ cuối thời Trần.

Với những kết quả thu được này, Viện Khảo cổ học và các nhà khoa học có tính đến việc tiếp tục tiến hành mở rộng quy mô khảo cổ tại các đảo, quần đảo không?

- Chúng tôi đang chỉnh lý để báo cáo các cấp có thẩm quyền và nhận sự chỉ đạo để tiếp tục khảo cổ học ở Trường Sa. Chúng tôi kiến nghị tiếp tục triển khai khảo cổ học dưới nước ở Trường Sa, Hoàng Sa và xây dựng đề án khảo sát bước đầu.

Yến Anh thực hiện (nld.com.vn)

KIÊN TRÌ GIỮ GÌN CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

Bao thế hệ cha ông đã đổ xương máu xác lập chủ quyền, giờ chúng ta phải quyết tâm gìn giữ

Thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, ngoài việc mở mang đất đai, các chúa đã xây dựng lực lượng thủy quân truyền thống để giữ gìn biển đảo, như tổ chức các đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải, vừa làm nhiệm vụ khai thác kinh tế biển vừa giữ gìn chủ quyền trên biển Ðông. Triều đình đã tổ chức khảo sát, ghi chép cẩn thận về tuyến đường biển ra các đảo, xa nhất có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ðó là những cơ sở cho việc quản lý vùng biển của Tổ quốc.

Sang thế kỷ XIX, nhà Nguyễn càng chú trọng hơn tới việc thực hiện quản lý về chủ quyền trên vùng biển, đảo. Ngay đầu đời Gia Long, nhà vua tiếp tục duy trì, củng cố các đội Hoàng Sa như trước và giao quần đảo Hoàng Sa cho tỉnh Quảng Ngãi quản lý.

Dưới thời Minh Mạng (1820-1840), triều đình thường cử thủy binh và quan lại đi thăm dò đường biển và khảo sát tại quần đảo Hoàng Sa. Đảo lớn nhất trong quần đảo này bấy giờ được ghi chép là đảo Phật Tự, đảo có chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt mọc trên cát trắng, giữa có giếng nước ngọt, phía Tây Nam dựng miếu và bia đá khắc 4 chữ "Vạn lý ba bình" (muôn dặm sóng yên). Phía Ðông và phía Tây đảo đều là "đá san hô mọc vòng quanh mặt nước" (sách "Ðại Nam nhất thống chí"). Tiếp giáp với vòng san hô, phía Tây Bắc của đảo Phật Tự có một bãi cát nổi lớn có chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước, có tên gọi là Bàn Than. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua cho thuyền chở gạch ra đảo Bàn Than, xây một ngôi đền. Phía bên tả dựng một tấm bia đá ghi dấu chủ quyền, tỉa hạt trồng các thứ cây ở hai bên và phía sau đền.

Kiên trì giữ gìn chủ quyền biển đảo - Ảnh 1.

Cảnh tàu thuyền tấp nập ở cảng Đà Nẵng thời Pháp thuộc

Ngoài việc quan tâm đến các vùng biển, đảo xa, nhà Nguyễn tăng cường quản lý chặt chẽ các đảo và quần đảo gần bờ. Đặc biệt, triều đình rất quan tâm, khuyến khích việc di dân từ các địa phương nội địa đến lập làng ở các vùng ven biển, thực hiện khai đê lấn biển, phát triển kinh tế ven biển.

Đầu thế kỷ XIX, nhà vua đặt ra chức "doanh điền sứ" để đảm nhận công việc khai khẩn ven núi, ven biển nhằm thực hiện chủ trương di dân ra biên giới, bờ biển. Nổi bật nhất là công việc lấn biển của doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đã cho ra đời 2 huyện mới: huyện Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình và huyện Kim Sơn thuộc tỉnh Ninh Bình vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829).

Kiên trì giữ gìn chủ quyền biển đảo - Ảnh 2.

Dụ số 10 của vua Bảo Đại ký ngày 29-3-1938 khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ảnh: TƯ LIỆU

Đến giữa thế kỷ XIX, toàn bộ vùng biển nước ta đặt dưới sự quản lý của 75 huyện, 3 châu thuộc 32 phủ của 18 tỉnh, 3 đạo và 1 phủ (Thừa Thiên) trực thuộc kinh thành. Các tỉnh ven biển đều được triều đình giao trách nhiệm quản lĩnh tất cả biên giới, bờ biển, hải đảo. Ngoài các đơn vị hành chính như tỉnh (hoặc đạo), phủ, huyện, tổng, xã ven biển còn có các hình thức tổ chức hành chính khác nhau, như trại (nơi mới lấn biển), vạn, phường theo các nghề đánh cá và chế biến hải sản. Nhờ những chính sách và biện pháp đó mà vùng biển nước ta từ Bắc vào Nam với những đảo ven bờ hay cách xa bờ 2-3 ngày đi thuyền đã có dân cư sinh sống. Cụ thể là trong vùng quần đảo của tỉnh Quảng Yên (nay là tỉnh Quảng Ninh) có hàng trăm đảo lớn nhỏ, địa thế hiểm trở, phức tạp, ở đó, cư dân chủ yếu làm nghề đánh cá, buôn bán trên biển.

Còn tại vùng biển phía Nam thuộc tỉnh Vĩnh Long, Hà Tiên cũng có rất nhiều đảo. Ðể tiện cho việc quản lý, bản đồ hành chính nước ta thời đó đã vẽ khá cẩn thận và kỹ lưỡng các đảo này. Có những đảo phải đi từ 1-2 ngày bằng thuyền mới tới nơi. Chẳng hạn, đảo Côn Lôn vốn do trấn Gia Ðịnh cai quản. Từ cửa Cần Giờ đi ra đảo Côn Lôn phải mất 2 ngày. Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), Côn Lôn được chuyển cho Vĩnh Long cai quản. Trên đảo có ruộng trồng lúa, cư dân thôn An Hải sinh sống. Hằng năm, họ làm ruộng, chăn nuôi, đánh cá và nộp thuế cho nhà nước bằng yến sào, ốc tai voi, đồi mồi, vích, dây mây...

Việc tổ chức quản lý dân cư, lãnh thổ ven biên giới vùng biển được thực hiện theo xu hướng thống nhất, tập trung quyền lực và quản lý chặt chẽ vào một đầu mối tối thượng là nhà vua và triều đình. Nếu như các triều đại từ thế kỷ XVIII trở về trước đã chú trọng đến việc sắp đặt lãnh thổ, quản lý cư dân ven biên giới, ven biển làm cơ sở khẳng định, thực hiện chủ quyền quốc gia thì nửa đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn cũng hết sức chú trọng khai thác, kế thừa, nâng cao các thành quả của các tiền triều.

Để bảo vệ biên giới, bờ biển, vùng biển, nhà Nguyễn đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức xây dựng và phát triển các lực lượng biên phòng, bố trí hệ thống "đồn bảo", "tấn sở" ở các cửa ải biên giới, cửa biển rất dày đặc. Bên cạnh đó, từng bước hoàn thiện tổ chức, biên chế lực lượng và quan quân trấn thủ biên phòng. Lực lượng trấn giữ biên giới, biển đảo thời Nguyễn bao gồm cả quân lính chính quy thường trực của triều đình lẫn quân địa phương, thổ binh, dân binh. Trong đó, quân chính quy đã được biên chế với tỉ lệ cao và có mặt ở hầu hết các khu vực trọng yếu.

Ngoài việc nâng cao trình độ tổ chức quản lý dân cư, lãnh thổ và tổ chức lực lượng làm nhiệm vụ biên phòng, nhà Nguyễn còn từng bước đề ra những quy định cụ thể về hoạt động của lực lượng này. Đó là những quy định phản ánh sự dẫn dắt, chỉ đạo tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, cách thức tiến hành kiểm soát, tuần tiễu nắm tin tức ở biên giới, cửa biển và trên vùng biển, đảo... Có những mặt hoạt động đã đạt tới một sự định hình nghệ thuật bảo vệ chủ quyền và an ninh biên giới, vùng biển của đất nước. Trước nguy cơ xâm lược của nước ngoài, nhà Nguyễn đã có một hệ thống biên phòng gần như hoàn chỉnh nhất mà hiện nay đã để lại cho chúng ta những bài học vô cùng cần thiết. 

Tôn Thất Thọ (nld.com.vn)

Ý thức về bảo vệ chủ quyền biển đảo đã ăn sâu vào tiềm thức dân tộc. Và một trong những bài học mà chúng ta đúc kết đó là phải quyết tâm, kiên trì, kiên định đấu tranh gìn giữ, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

KIÊN TRÌ GIỮ GÌN CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

Bao thế hệ cha ông đã đổ xương máu xác lập chủ quyền, giờ chúng ta phải quyết tâm gìn giữ

Thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, ngoài việc mở mang đất đai, các chúa đã xây dựng lực lượng thủy quân truyền thống để giữ gìn biển đảo, như tổ chức các đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải, vừa làm nhiệm vụ khai thác kinh tế biển vừa giữ gìn chủ quyền trên biển Ðông. Triều đình đã tổ chức khảo sát, ghi chép cẩn thận về tuyến đường biển ra các đảo, xa nhất có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ðó là những cơ sở cho việc quản lý vùng biển của Tổ quốc.

Sang thế kỷ XIX, nhà Nguyễn càng chú trọng hơn tới việc thực hiện quản lý về chủ quyền trên vùng biển, đảo. Ngay đầu đời Gia Long, nhà vua tiếp tục duy trì, củng cố các đội Hoàng Sa như trước và giao quần đảo Hoàng Sa cho tỉnh Quảng Ngãi quản lý.

Dưới thời Minh Mạng (1820-1840), triều đình thường cử thủy binh và quan lại đi thăm dò đường biển và khảo sát tại quần đảo Hoàng Sa. Đảo lớn nhất trong quần đảo này bấy giờ được ghi chép là đảo Phật Tự, đảo có chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt mọc trên cát trắng, giữa có giếng nước ngọt, phía Tây Nam dựng miếu và bia đá khắc 4 chữ "Vạn lý ba bình" (muôn dặm sóng yên). Phía Ðông và phía Tây đảo đều là "đá san hô mọc vòng quanh mặt nước" (sách "Ðại Nam nhất thống chí"). Tiếp giáp với vòng san hô, phía Tây Bắc của đảo Phật Tự có một bãi cát nổi lớn có chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước, có tên gọi là Bàn Than. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua cho thuyền chở gạch ra đảo Bàn Than, xây một ngôi đền. Phía bên tả dựng một tấm bia đá ghi dấu chủ quyền, tỉa hạt trồng các thứ cây ở hai bên và phía sau đền.

Kiên trì giữ gìn chủ quyền biển đảo - Ảnh 1.

Cảnh tàu thuyền tấp nập ở cảng Đà Nẵng thời Pháp thuộc

Ngoài việc quan tâm đến các vùng biển, đảo xa, nhà Nguyễn tăng cường quản lý chặt chẽ các đảo và quần đảo gần bờ. Đặc biệt, triều đình rất quan tâm, khuyến khích việc di dân từ các địa phương nội địa đến lập làng ở các vùng ven biển, thực hiện khai đê lấn biển, phát triển kinh tế ven biển.

Đầu thế kỷ XIX, nhà vua đặt ra chức "doanh điền sứ" để đảm nhận công việc khai khẩn ven núi, ven biển nhằm thực hiện chủ trương di dân ra biên giới, bờ biển. Nổi bật nhất là công việc lấn biển của doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đã cho ra đời 2 huyện mới: huyện Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình và huyện Kim Sơn thuộc tỉnh Ninh Bình vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829).

Kiên trì giữ gìn chủ quyền biển đảo - Ảnh 2.

Dụ số 10 của vua Bảo Đại ký ngày 29-3-1938 khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ảnh: TƯ LIỆU

Đến giữa thế kỷ XIX, toàn bộ vùng biển nước ta đặt dưới sự quản lý của 75 huyện, 3 châu thuộc 32 phủ của 18 tỉnh, 3 đạo và 1 phủ (Thừa Thiên) trực thuộc kinh thành. Các tỉnh ven biển đều được triều đình giao trách nhiệm quản lĩnh tất cả biên giới, bờ biển, hải đảo. Ngoài các đơn vị hành chính như tỉnh (hoặc đạo), phủ, huyện, tổng, xã ven biển còn có các hình thức tổ chức hành chính khác nhau, như trại (nơi mới lấn biển), vạn, phường theo các nghề đánh cá và chế biến hải sản. Nhờ những chính sách và biện pháp đó mà vùng biển nước ta từ Bắc vào Nam với những đảo ven bờ hay cách xa bờ 2-3 ngày đi thuyền đã có dân cư sinh sống. Cụ thể là trong vùng quần đảo của tỉnh Quảng Yên (nay là tỉnh Quảng Ninh) có hàng trăm đảo lớn nhỏ, địa thế hiểm trở, phức tạp, ở đó, cư dân chủ yếu làm nghề đánh cá, buôn bán trên biển.

Còn tại vùng biển phía Nam thuộc tỉnh Vĩnh Long, Hà Tiên cũng có rất nhiều đảo. Ðể tiện cho việc quản lý, bản đồ hành chính nước ta thời đó đã vẽ khá cẩn thận và kỹ lưỡng các đảo này. Có những đảo phải đi từ 1-2 ngày bằng thuyền mới tới nơi. Chẳng hạn, đảo Côn Lôn vốn do trấn Gia Ðịnh cai quản. Từ cửa Cần Giờ đi ra đảo Côn Lôn phải mất 2 ngày. Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), Côn Lôn được chuyển cho Vĩnh Long cai quản. Trên đảo có ruộng trồng lúa, cư dân thôn An Hải sinh sống. Hằng năm, họ làm ruộng, chăn nuôi, đánh cá và nộp thuế cho nhà nước bằng yến sào, ốc tai voi, đồi mồi, vích, dây mây...

Việc tổ chức quản lý dân cư, lãnh thổ ven biên giới vùng biển được thực hiện theo xu hướng thống nhất, tập trung quyền lực và quản lý chặt chẽ vào một đầu mối tối thượng là nhà vua và triều đình. Nếu như các triều đại từ thế kỷ XVIII trở về trước đã chú trọng đến việc sắp đặt lãnh thổ, quản lý cư dân ven biên giới, ven biển làm cơ sở khẳng định, thực hiện chủ quyền quốc gia thì nửa đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn cũng hết sức chú trọng khai thác, kế thừa, nâng cao các thành quả của các tiền triều.

Để bảo vệ biên giới, bờ biển, vùng biển, nhà Nguyễn đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức xây dựng và phát triển các lực lượng biên phòng, bố trí hệ thống "đồn bảo", "tấn sở" ở các cửa ải biên giới, cửa biển rất dày đặc. Bên cạnh đó, từng bước hoàn thiện tổ chức, biên chế lực lượng và quan quân trấn thủ biên phòng. Lực lượng trấn giữ biên giới, biển đảo thời Nguyễn bao gồm cả quân lính chính quy thường trực của triều đình lẫn quân địa phương, thổ binh, dân binh. Trong đó, quân chính quy đã được biên chế với tỉ lệ cao và có mặt ở hầu hết các khu vực trọng yếu.

Ngoài việc nâng cao trình độ tổ chức quản lý dân cư, lãnh thổ và tổ chức lực lượng làm nhiệm vụ biên phòng, nhà Nguyễn còn từng bước đề ra những quy định cụ thể về hoạt động của lực lượng này. Đó là những quy định phản ánh sự dẫn dắt, chỉ đạo tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, cách thức tiến hành kiểm soát, tuần tiễu nắm tin tức ở biên giới, cửa biển và trên vùng biển, đảo... Có những mặt hoạt động đã đạt tới một sự định hình nghệ thuật bảo vệ chủ quyền và an ninh biên giới, vùng biển của đất nước. Trước nguy cơ xâm lược của nước ngoài, nhà Nguyễn đã có một hệ thống biên phòng gần như hoàn chỉnh nhất mà hiện nay đã để lại cho chúng ta những bài học vô cùng cần thiết. 

Tôn Thất Thọ (nld.com.vn)

Ý thức về bảo vệ chủ quyền biển đảo đã ăn sâu vào tiềm thức dân tộc. Và một trong những bài học mà chúng ta đúc kết đó là phải quyết tâm, kiên trì, kiên định đấu tranh gìn giữ, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

XÁC LẬP CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TỪ RẤT SỚM

Việc cắm mốc, dựng bia chủ quyền ở xứ Hoàng Sa từ thời vua Gia Long, Minh Mạng là những cơ sở lịch sử quan trọng, khẳng định chủ quyền tuyệt đối, bất khả xâm phạm của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn, ngay từ khi lên ngôi, Gia Long đã có những quyết sách khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa - Trường Sa hết sức mạnh mẽ, cứng rắn như cho cắm mốc chủ quyền, khảo sát và khai thác tài nguyên tại Hoàng Sa. Sau khi vua Gia Long mất, vua Minh Mạng kế vị, tiếp tục kế thừa và phát huy quyền làm chủ biển, đảo của nước ta.

Tầm nhìn chiến lược

Năm 1815, vua Gia Long sai Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra thăm dò đường biển, sau đó sai thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra khảo sát quần đảo này. Điều này cho thấy tầm nhìn chiến lược, ý thức về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của vị vua đầu tiên nhà Nguyễn.

Sau đó một năm, tức năm 1816, vua Gia Long cho cắm mốc tại Hoàng Sa. Sự kiện năm 1816 không chỉ được ghi lại trong chính sử triều Nguyễn, mà còn được các học giả phương Tây lúc bấy giờ ghi lại. Baptiste Chaigneau (1769 - 1825), một người nước ngoài có mặt tại Huế ghi lại trong nhật ký "Le Mémoire sur la Cochinchine": "Nước Giao Chỉ gồm xứ Đàng Trong, xứ Đông Kinh, một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có cư dân không xa bờ bể và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, đá ngầm và mỏm đá không có dân cư. Đến năm 1816, Hoàng đế bấy giờ (vua Gia Long) mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy (tức Hoàng Sa)". Hay giám mục Jean Louis Taberd khẳng định: "Năm 1816, ông (vua Gia Long) đã tới long trọng cắm cờ chính thức giữ chủ quyền tại các hòn đảo đá này mà hình như không một ai tranh giành với ông". Sự kiện này là minh chứng đậm nét nhất, lần đầu tiên về mặt nhà nước, một triều đại phong kiến chính thức của Việt Nam cắm mốc để khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa.

Một dấu ấn nữa được triều Nguyễn tạo nên dưới triều vua Minh Mạng. Trong sách "Đại Nam thực lục chính biên - đệ nhị kỷ", quyển 122 của Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi rõ vào tháng giêng năm Minh Mạng thứ 17-1836, Bộ Công tâu với triều đình: "... Xin từ năm nay trở về sau mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái biền binh thủy quân và vệ giáp thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng 2 thì đến Quảng Ngãi, bắt 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại, xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình".

Sau đó, vua Minh Mạng chuẩn y lời tâu của Bộ Công, sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, đồng thời cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến Hoàng Sa dựng. Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc dòng chữ: "Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ".

Cả 2 sự kiện trên được thực hiện vô cùng thuận lợi mà không có bất kỳ sự tranh chấp, can thiệp của bất kỳ quốc gia nào khác.

Bên cạnh việc cắm mốc chủ quyền, trước đó 1 năm, năm Minh Mạng thứ 16-1835, nhà vua còn cho xây miếu, dựng bia chủ quyền. "Đại Nam thực lục" ghi lại như sau: "Bãi Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng cây cối xanh um, giữa cồn cát có cái giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có bia khắc bốn chữ "vạn lý ba bình". Năm ngoái (tức năm Minh Mạng thứ 15-1834) vua toan dựng miếu, lập bia ở chỗ ấy bỗng vì sao không làm được. Đến đây mới sai cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến đây dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước xây cái bình phong. 15 ngày làm xong rồi về".

Xác lập chủ quyền biển đảo từ rất sớm - Ảnh 1.

Bản vẽ Đại Nam nhất thống toàn đồ thời Minh Mạng thể hiện rõ 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam Ảnh: tư liệu

Sở hữu hợp pháp

Ngược dòng lịch sử, ngay sau khi giành được thắng lợi trước quân Tây Sơn, lập nên nhà Nguyễn (1802), năm 1803, vua Gia Long cho lập lại đội Hoàng Sa, cử cai đội Võ Văn Phú làm chỉ huy đi khảo sát, vẽ bản đồ của các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, phục vụ cho việc khai thác tài nguyên và thực thi chủ quyền.

Đến lúc kế nhiệm, vua Minh Mạng nhận thức phái người đến vùng đảo Hoàng Sa thực hiện việc đo đạc thủy trình và vẽ bổ sung những điểm còn thiếu trên bản đồ, hình thành một hệ thống bản đồ chi tiết. Vua Minh Mạng giao cho thủy quân có trách nhiệm đo đạc thủy trình và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải trình. Việc này được thực hiện thường xuyên và có hệ thống, góp phần vào việc thành công của bản vẽ Đại Nam nhất thống toàn đồ thời Minh Mạng.

Về mặt khai thác tại xứ Hoàng Sa, các tài liệu ghi chép khá tản mạn, song trong "Đại Nam thực lục" và "Đại Nam nhất thống chí" cũng đã có ghi lại như sau: Vào năm (1834), vua Minh Mạng sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về đã "đem dâng vua những thứ chim, cá, ba ba, ốc, sò ngao đã bắt được ở nơi đó, đều là những vật lạ, ít thấy". Trong "Đại Nam nhất thống chí" cũng có ghi chép: "Trong quá trình dựng miếu, các bình phu đắp nên miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến 2.000 cân".

Nhờ cho người thường xuyên đến khảo sát xứ Hoàng Sa nên đến thời vua Minh Mạng, bản Đại Nam nhất thống toàn đồ đã thể hiện rất rõ 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho dù trong cách nhìn nhận của triều Nguyễn vẫn chỉ xem 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là xứ Hoàng Sa nhưng có thể thấy rằng thông qua việc khảo sát, đo đạc, khai thác tại xứ Hoàng Sa, triều Nguyễn đã làm rõ ràng hơn sự chiếm hữu hợp pháp của Việt Nam tại 2 quần đảo này.

Điều quan trọng là thông qua những cứ liệu lịch sử được ghi lại của Quốc sử quán triều Nguyễn và một số cứ liệu lịch sử của các học giả nước ngoài, chúng ta thấy được ý thức về biển, đảo của 2 vị vua đầu tiên nhà Nguyễn và có được những minh chứng đậm nét để khẳng định chủ quyền tuyệt đối, bất khả xâm phạm của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Việc cắm mốc, xây miếu, dựng bia chủ quyền là một trong những biện pháp cốt lõi để khẳng định chủ quyền của 2 vị vua Gia Long và Minh Mạng, để lại những cơ sở lịch sử vô cùng quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta hiện nay.
Mai Trọng Nhân (nld.com.vn)

XÁC LẬP CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TỪ RẤT SỚM

Việc cắm mốc, dựng bia chủ quyền ở xứ Hoàng Sa từ thời vua Gia Long, Minh Mạng là những cơ sở lịch sử quan trọng, khẳng định chủ quyền tuyệt đối, bất khả xâm phạm của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn, ngay từ khi lên ngôi, Gia Long đã có những quyết sách khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa - Trường Sa hết sức mạnh mẽ, cứng rắn như cho cắm mốc chủ quyền, khảo sát và khai thác tài nguyên tại Hoàng Sa. Sau khi vua Gia Long mất, vua Minh Mạng kế vị, tiếp tục kế thừa và phát huy quyền làm chủ biển, đảo của nước ta.

Tầm nhìn chiến lược

Năm 1815, vua Gia Long sai Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra thăm dò đường biển, sau đó sai thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra khảo sát quần đảo này. Điều này cho thấy tầm nhìn chiến lược, ý thức về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của vị vua đầu tiên nhà Nguyễn.

Sau đó một năm, tức năm 1816, vua Gia Long cho cắm mốc tại Hoàng Sa. Sự kiện năm 1816 không chỉ được ghi lại trong chính sử triều Nguyễn, mà còn được các học giả phương Tây lúc bấy giờ ghi lại. Baptiste Chaigneau (1769 - 1825), một người nước ngoài có mặt tại Huế ghi lại trong nhật ký "Le Mémoire sur la Cochinchine": "Nước Giao Chỉ gồm xứ Đàng Trong, xứ Đông Kinh, một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có cư dân không xa bờ bể và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, đá ngầm và mỏm đá không có dân cư. Đến năm 1816, Hoàng đế bấy giờ (vua Gia Long) mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy (tức Hoàng Sa)". Hay giám mục Jean Louis Taberd khẳng định: "Năm 1816, ông (vua Gia Long) đã tới long trọng cắm cờ chính thức giữ chủ quyền tại các hòn đảo đá này mà hình như không một ai tranh giành với ông". Sự kiện này là minh chứng đậm nét nhất, lần đầu tiên về mặt nhà nước, một triều đại phong kiến chính thức của Việt Nam cắm mốc để khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa.

Một dấu ấn nữa được triều Nguyễn tạo nên dưới triều vua Minh Mạng. Trong sách "Đại Nam thực lục chính biên - đệ nhị kỷ", quyển 122 của Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi rõ vào tháng giêng năm Minh Mạng thứ 17-1836, Bộ Công tâu với triều đình: "... Xin từ năm nay trở về sau mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái biền binh thủy quân và vệ giáp thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng 2 thì đến Quảng Ngãi, bắt 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại, xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình".

Sau đó, vua Minh Mạng chuẩn y lời tâu của Bộ Công, sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, đồng thời cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến Hoàng Sa dựng. Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc dòng chữ: "Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ".

Cả 2 sự kiện trên được thực hiện vô cùng thuận lợi mà không có bất kỳ sự tranh chấp, can thiệp của bất kỳ quốc gia nào khác.

Bên cạnh việc cắm mốc chủ quyền, trước đó 1 năm, năm Minh Mạng thứ 16-1835, nhà vua còn cho xây miếu, dựng bia chủ quyền. "Đại Nam thực lục" ghi lại như sau: "Bãi Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng cây cối xanh um, giữa cồn cát có cái giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có bia khắc bốn chữ "vạn lý ba bình". Năm ngoái (tức năm Minh Mạng thứ 15-1834) vua toan dựng miếu, lập bia ở chỗ ấy bỗng vì sao không làm được. Đến đây mới sai cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến đây dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước xây cái bình phong. 15 ngày làm xong rồi về".

Xác lập chủ quyền biển đảo từ rất sớm - Ảnh 1.

Bản vẽ Đại Nam nhất thống toàn đồ thời Minh Mạng thể hiện rõ 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam Ảnh: tư liệu

Sở hữu hợp pháp

Ngược dòng lịch sử, ngay sau khi giành được thắng lợi trước quân Tây Sơn, lập nên nhà Nguyễn (1802), năm 1803, vua Gia Long cho lập lại đội Hoàng Sa, cử cai đội Võ Văn Phú làm chỉ huy đi khảo sát, vẽ bản đồ của các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, phục vụ cho việc khai thác tài nguyên và thực thi chủ quyền.

Đến lúc kế nhiệm, vua Minh Mạng nhận thức phái người đến vùng đảo Hoàng Sa thực hiện việc đo đạc thủy trình và vẽ bổ sung những điểm còn thiếu trên bản đồ, hình thành một hệ thống bản đồ chi tiết. Vua Minh Mạng giao cho thủy quân có trách nhiệm đo đạc thủy trình và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải trình. Việc này được thực hiện thường xuyên và có hệ thống, góp phần vào việc thành công của bản vẽ Đại Nam nhất thống toàn đồ thời Minh Mạng.

Về mặt khai thác tại xứ Hoàng Sa, các tài liệu ghi chép khá tản mạn, song trong "Đại Nam thực lục" và "Đại Nam nhất thống chí" cũng đã có ghi lại như sau: Vào năm (1834), vua Minh Mạng sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về đã "đem dâng vua những thứ chim, cá, ba ba, ốc, sò ngao đã bắt được ở nơi đó, đều là những vật lạ, ít thấy". Trong "Đại Nam nhất thống chí" cũng có ghi chép: "Trong quá trình dựng miếu, các bình phu đắp nên miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến 2.000 cân".

Nhờ cho người thường xuyên đến khảo sát xứ Hoàng Sa nên đến thời vua Minh Mạng, bản Đại Nam nhất thống toàn đồ đã thể hiện rất rõ 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho dù trong cách nhìn nhận của triều Nguyễn vẫn chỉ xem 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là xứ Hoàng Sa nhưng có thể thấy rằng thông qua việc khảo sát, đo đạc, khai thác tại xứ Hoàng Sa, triều Nguyễn đã làm rõ ràng hơn sự chiếm hữu hợp pháp của Việt Nam tại 2 quần đảo này.

Điều quan trọng là thông qua những cứ liệu lịch sử được ghi lại của Quốc sử quán triều Nguyễn và một số cứ liệu lịch sử của các học giả nước ngoài, chúng ta thấy được ý thức về biển, đảo của 2 vị vua đầu tiên nhà Nguyễn và có được những minh chứng đậm nét để khẳng định chủ quyền tuyệt đối, bất khả xâm phạm của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Việc cắm mốc, xây miếu, dựng bia chủ quyền là một trong những biện pháp cốt lõi để khẳng định chủ quyền của 2 vị vua Gia Long và Minh Mạng, để lại những cơ sở lịch sử vô cùng quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta hiện nay.
Mai Trọng Nhân (nld.com.vn)

BÀI ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI XEM